Phong trào yêu nước chống Thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Ngũ Hành Sơn nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX - Phần 1
Người đăng tin: Test Test Ngày đăng tin: 13/12/2013 Lượt xem: 27

Ngày 1.9.1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha, gồm 2.350 quân và 16 chiến hạm, dưới quyền chỉ huy của Ri-gôn đờ Giơ-nui-dy

Ngày 1.9.1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha, gồm 2.350 quân và 16 chiến hạm, dưới quyền chỉ huy của Ri-gôn đờ Giơ-nui-dy (Rigauly de Genouilly) đã bắn đại bác vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của thực dân phương Tây. Kế hoạch của địch là "đánh nhanh thắng nhanh", chiếm Đà Nẵng rồi đánh ra Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng.

Nửa đầu tháng 9 năm 1858, quân Pháp và Tây Ban Nha mở cuộc hành quân vào xã Mỹ Thị. Nhân dân trên địa bàn Ngũ Hành Sơn ngày nay đã phối hợp với quân triều đình đắp các ụ đất, đào công sự và dựng hàng rào bao bọc quanh khu vực đồn Mỹ Thị để đánh địch. Quân địch tiến vào Mỹ Thị, phá phòng tuyến của ta rồi tiến qua sông đánh lên làng Cẩm Lệ. Tổng thống quân vụ Quảng Nam Lê Đình Lý trúng đạn trọng thương, quân ta bị thua hoàn toàn, nhưng quân địch cũng không dám cho quân chốt lại chiếm giữ. Do vậy, ta vẫn giữ được Mỹ Thị - Cẩm Lệ và quân địch phải lùi về lại núi Sơn Trà.

Tháng 10.1858, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống quân vụ Quảng Nam, chỉ huy mặt trận Đà Nẵng. Với 5.000 quân của triều đình và hàng ngàn nghĩa binh của Phạm Gia Vĩnh, Nguyễn Tri Phương cho đào hào, đắp luỹ kiên cố, thực hiện chủ trương vây chặt địch ở ngoài mé biển, dùng chiến thuật đánh du kích tiêu hao và đẩy lùi các toán quân địch. Quân ta dựa vào chiến lũy mới đắp và các đồn Điện Hải, Hải Châu, Phước Ninh, Nại Hiên, Thạc Gián, Nghi Xuân, Liên Trì và Hoá Khuê, Mỹ Thị để đánh địch. Quân Pháp và Tây Ban Nha bị tổn thất nặng nề nên buộc phải lui quân.

Đầu tháng 2.1859, địch chỉ để lại Đà Nẵng một đại đội và một vài chiến hạm, còn đại quân kéo vào đánh Gia Định. Ngày 18.4.1859, địch lại quay ra Đà Nẵng. Trong các ngày 8.5 và 15.9.1859, chúng mở hai cuộc tiến công ào ạt vào khắp trận tuyến của quân ta, nhưng vẫn không thể tiến sâu hơn vào nội địa. Tháng 2.1860, chúng xin cầu hoà nhằm thực hiện kế hoãn binh. Ta cự tuyệt. Quân địch phải án binh bất động để bảo toàn lực lượng, chờ viện binh. Quân ta liền thay đổi chiến thuật, chuyển sang "lấy đánh làm giữ" cho đến khi quân Pháp và Tây Ban Nha được lệnh rút quân ra khỏi Đà Nẵng. Chúng chuyển mục tiêu vào Gia Định, đánh chiếm 6 tỉnh Nam kỳ và sau đó đưa quân ra đánh chiếm Bắc kỳ. Ngày 20.8.1883, thực dân Pháp đưa thuyền chiến áp sát cửa bể Thuận An, uy hiếp trực tiếp kinh thành Huế. Triều đình nhà Nguyễn đã đớn hèn ký với Pháp Hoà ước Hắc- măng (25.8.1883) và Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6.6.1884), đầu hàng và dâng nước ta cho Pháp.

Với tinh thần yêu nước nồng nàn, nhân dân ta ở khắp nơi trong nước vẫn tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước. Tại triều đình Huế cũng có sự phân hoá chính trị sâu sắc, hình thành phái chủ chiến và phái chủ trương hòa hoãn với Pháp. Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã tổ chức lực lượng đánh úp toà khâm sứ Trung kỳ của Pháp tại Huế và đồn Mang Cá của quân Pháp. Cuộc nổi dậy bị thất bại, ông liền phò vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị. Tại đây, ngày 13.7.1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương hô hào nhân dân ra sức phò vua cứu nước.

Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, tháng 9.1885, Nghĩa hội Quảng Nam được thành lập, ban đầu do Tiến sĩ Trần Văn Dư và về sau do Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu làm Hội chủ. Từ chỗ làm chủ từng địa phương, Nghĩa hội đã hội quân đánh chiếm tỉnh thành La Qua (Điện Bàn), Sơn phòng Dương Yên (Bắc Trà My) và thành lập Tân tỉnh ở Trung Lộc (Quế Sơn). Từ năm 1885 cho đến năm 1887, trong 3 năm, Nghĩa hội gần như làm chủ tình hình trong tỉnh. Nhân dân các làng thuộc Ngũ Hành Sơn ngày nay đã tích cực tham gia Nghĩa hội, trong đó tiêu biểu là hai nhà yêu nước Huỳnh Bá Chánh và Nguyễn Văn Diêu.

Cụ Huỳnh Bá Chánh sinh năm 1832, người làng Khái Đông, đỗ cử nhân khoa Quý Dậu (1873) và đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mão (1885), từng giữ chức giám sát Ngự sử trong triều đình Huế. Năm 1885, Huỳnh Bá Chánh từ quan về quê, cùng các văn thân trong tỉnh xây dựng phong trào Nghĩa hội Quảng Nam. Cụ đã cùng Nguyễn Duy Hiệu chủ trương thành lập Tân tỉnh, tổ chức chính quyền kháng chiến để tổ chức chống Pháp lâu dài. Trong chính quyền Nghĩa hội, Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu là Tổng đốc, Phan Bá Phiến là Án sát và Huỳnh Bá Chánh là Bố chánh. Cho đến lúc Nghĩa hội Quảng Nam bị tan rã, Huỳnh Bá Chánh định sang Xiêm nhưng nghĩ đến cảnh giặc triệt hạ, tàn sát dân làng mình nên cụ đã quay về núi Ngũ Hành đưa tin cho dân trong xã biết, để giặc đến bắt. Cụ đã bị thực dân Pháp và phong kiến tay sai kết án tử hình và xử tử tại Chợ Củi (Điện Bàn) vào ngày 6 tháng 12 năm Đinh Hợi (1887).

Mùa thu năm 1885, Nguyễn Văn Diêu - thường gọi là Quản Diêu, một nông dân ở xã Hoá Khuê Đông đã dùng cán cuốc diệt một tên lính trinh sát Pháp ở bờ sông gần hòn Kim của núi Ngũ Hành. Ông chém đầu tên giặc đem nộp cho vị chỉ huy Nghĩa hội đóng tại đồn Giang Châu. Mười ngày sau ông được Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu tặng cho chiếc khăn điều và phong làm chánh quản cơ hương binh, cho trấn giữ đồn Thảo Long, bên bờ con đường nước nhỏ chảy ngang qua quê ông đổ ra sông Hàn. Tháng 8.1886, sau khi đẩy lui được các đợt tiến công của Nghĩa hội vào Đà Nẵng, giặc Pháp cho đông lại các chợ Cẩm Lệ, Hà Thân để làm nguồn tiếp tế thực phẩm cho chúng. Được lệnh của Nghĩa hội, Nguyễn Văn Diêu và hương binh làng Hoá Khuê Đông đã tổ chức đốt phá chợ Hà Thân. Ban ngày quân Pháp dựng chợ thì ban đêm bị hương binh đốt cháy sạch. Đến khoảng đầu năm 1887, giặc pháp đã đưa hai chiếc tàu buồm chở lính ngược sông Hàn vào đổ tại bến Cạn của khúc sông Đầm, tiến lên làng Hoá Khuê Đông bao vây khu nhà của Nguyễn Văn Diêu. Nguyễn Văn Diêu thoát qua thôn Đại An và hương binh thì rút về Quán Khái để hợp với cánh quân của Huỳnh Bá Chánh, cố thủ dọc theo bờ ruộng tại đây. Quân Pháp khiêng tất cả đồ đạt nhà Nguyễn Văn Diêu xuống tàu, rồi phóng hoả đốt nhà ông. Chúng tịch thu trên 100 mỏ sảy là khí giới của hương binh. Cho đến xế chiều, tình hình lắng dịu, Nguyễn Văn Diêu từ Quán Khái trở về nhà và bị phục binh của Pháp vây bắt. Ngày 31.3.1887, chúng điệu ông ra xử chém ở cồn Dưa và đem đầu ông treo lên cột cờ trước chợ Hà Thân. Ba ngày sau, đang đêm, hương binh đã trèo lên cột cờ cắt dây và đem đầu của ông về Hoá Khuê Đông , tổ chức lễ truy điệu và an táng ông.

Cùng tham gia phong trào Nghĩa hội với Huỳnh Bá Chánh, Nguyễn Văn Diêu còn có lãnh binh Lê Doãn ở Mân Quang. Dưới sự chỉ đạo của hội chủ Nguyễn Duy Hiệu, ông đã tổ chức nhiều cuộc đánh quân Pháp và tay sai. Chúng bắt được ông đem về giam tại Huế. Ông đã vượt ngục và anh dũng hy sinh.

Chuyên mục, tin tức liên quan:
Tìm kiếm
 



















Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 1 3 3 1 7 2 9 6
Hôm nay: 11.270
Hôm qua: 13.811
Tuần này: 38.278
Tháng này: 178.455
Tổng cộng: 13.317.296

Sở ban ngành Sở ban ngành

Đơn vị hành chính Đơn vị hành chính